Nhắc đến Bắc Giang chắc mọi người đều không thể nào quên được một đặc sản vô cùng nổi tiếng đó chính là vải thiều Lục Ngạn. Nhưng ngoài vải thì Bắc Giang còn có rất nhiều đặc sản khác nữa. Cùng Thế Giới Nghiêng khám phá nhé!
1. Vải thiều Lục Ngạn
Trong số các sản vật nổi tiếng của Bắc Giang, không thể không nhắc tới vải thiều, đặc biệt là vải thiều Lục Ngạn. Vải thiều được trồng ở Lục Ngạn khoảng vào những năm 90 của thế kỷ trước bởi những người nông dân quê gốc Hải Dương. Với đức tính cần mẫn, hay lam hay làm, người dân Lục Ngạn đã biến những vùng đồi khô cằn trước đây thành những đồi vải bạt ngàn. Cây vải ở Thanh Hà vốn đã thơm ngon nổi tiếng lại được trồng ở vùng đồi đất đỏ pha lẫn sỏi cùng với khí hậu ôn hoà của Lục Ngạn đã tạo ra một thứ quả ngọt thơm lành thậm chí còn thơm ngọt, đậm đà hơn cả nơi nó đã được sinh ra và dành được rất nhiều cảm tình của người sành hoa quả cả trong và ngoài nước. Quả vải thiều Lục Ngạn có đặc điểm khi chín có màu đỏ, vỏ mỏng, hạt nhỏ, cùi dày khi ăn có vị ngọt đậm khiến người ăn cứ muốn thưởng thức thêm.
Hiện nay Vải thiều Lục Ngạn không chỉ được người dân trong nước ưa chuộng mà còn xuất sang thị trường nước ngoài như Châu Âu, Trung Quốc.
2. Bánh tro Đa Mai
Bánh tro được làm từ những nguyên liệu đơn giản, bằng gạo nếp và tro của một số cây sẵn có ở vùng đất này như rơm nếp, củ chuối phơi khô, cây tạp nhạp…Nguyên liệu đơn giản nhưng để hoàn thành một mẻ bánh lại cần sự công phu và khéo léo của người làm bánh.
Gạo nếp cái hoa vàng được đãi sạch, nhặt bỏ sạn, gạo tẻ lẫn trong đó rồi để ráo. Những cây tạp nhạp, rơm khô… được phơi khô đốt lấy tro. Dùng tro đó pha với vôi để lắng lại rồi lấy nước trong.
Gạo nếp cái hoa vàng được đãi sạch, nhặt bỏ sạn, gạo tẻ lẫn trong đó rồi để ráo. Những cây tạp nhạp, rơm khô… được phơi khô đốt lấy tro. Dùng tro đó pha với vôi để lắng lại rồi lấy nước trong.
Khi cho vôi người làm bánh phải hết sức để ý, nếu cho nhiều vôi quá bánh sẽ bị nồng, mất ngon.
Nước tro phải có màu vàng hổ phách bánh trông mới ngon và bắt mắt. Sau đó cho gạo đã đãi sạch vào ngâm qua một đêm, vớt ra, để ráo. Lá gói bánh thường được dùng lá dong hoặc lá ỏng. Lá mang về rửa sạch, để ráo. Sau đó người làm bánh phải thận cẩn thận, khéo léo cho gạo vào lòng chiếc lá sao cho gọn, đều rồi quấn lá và bẻ mép lá ở hai đầu bánh cho thật khít, thật đều và cân đối.
Dây cuốn bánh thường dùng dây lạt, buộc bánh không chặt quá, để khi luộc hạt gạo nở đều. Trong quá trình chuẩn bị nguyên liệu và gói bánh người làm bánh luôn tránh để mỡ dây vào, nếu không khi luộc bánh sẽ không rền, hỏng mẻ bánh. Bánh gói xong xếp vào nồi luộc 5-6 giờ là được.
Bánh tro luộc chín, bóc từng lớp vỏ ngoài thấy hiện lên một màu vàng nâu, trong như hổ phách, chưa cần thưởng thức cũng đã quyến rũ người ăn. Bánh tro thường được chấm với nước mật hoặc với đường. Cắn một miếng thấy được vị thanh mát, dẻo thơm của hạt gạo quyện lẫn với vị ngọt của đường, cảm nhận được sự tài hoa, khéo léo của những người thợ làm bánh.
3. Bún Đa Mai
Người Bắc Giang đến nay vẫn lưu truyền câu vè “Bún Đa Mai, vai làng Đò, giò làng Thương, tương làng Bún…” Bún Đa Mai là sản phẩm bún nổi tiếng từ lâu đời, được làm ở xã Đa Mai thuộc thành phố Bắc Giang, có sợi dẻo, ăn mát, để cả ngày không chua lại trắng muốt như bột lọc.
Nghề làm bún ở Đa Mai xuất hiện tương đối sớm (khoảng 400 năm trước), là một trong bốn làng nghề làm bún cổ xưa của miền Bắc. Làm bún là một nghề lắm công phu và cũng vô cùng nặng nhọc. Để làm ra một sản phẩm bún đã khó, nhưng để có một sản phẩm bún đạt tiêu chuẩn và có chỗ đứng trong thị trường như bún Đa Mai thì đòi hỏi nhiều công sức và đôi bàn tay khéo léo. Quy trình làm bún trải qua nhiều công đoạn: Gạo đem ngâm với nước ủ chua từ hai đến ba ngày, sau đó đem xay hoặc nghiền thành bột nhỏ mịn rồi đem lọc tách nước. Bột mịn được vo viên thành từng quả to vừa phải rồi cho vào nồi luộc chín tới 1/4 quả, sau đó cho vào cối giã để tạo độ dẻo. Quả bún lấy ra cho vào chậu sành nhào thật kỹ, rồi đem lọc lại và chỉ lấy phần bột nhuyễn cho vào khuôn ép để trên nồi nước đã đun sôi, các sợi bún sẽ chảy xuống nồi. Khi các sợi bún nổi lên là chín, vớt ra đem thả vào nước sôi để nguội khoảng 25 độ rồi dỡ ra để nguội.
Nghề làm bún ở Đa Mai xuất hiện tương đối sớm (khoảng 400 năm trước), là một trong bốn làng nghề làm bún cổ xưa của miền Bắc. Làm bún là một nghề lắm công phu và cũng vô cùng nặng nhọc. Để làm ra một sản phẩm bún đã khó, nhưng để có một sản phẩm bún đạt tiêu chuẩn và có chỗ đứng trong thị trường như bún Đa Mai thì đòi hỏi nhiều công sức và đôi bàn tay khéo léo. Quy trình làm bún trải qua nhiều công đoạn: Gạo đem ngâm với nước ủ chua từ hai đến ba ngày, sau đó đem xay hoặc nghiền thành bột nhỏ mịn rồi đem lọc tách nước. Bột mịn được vo viên thành từng quả to vừa phải rồi cho vào nồi luộc chín tới 1/4 quả, sau đó cho vào cối giã để tạo độ dẻo. Quả bún lấy ra cho vào chậu sành nhào thật kỹ, rồi đem lọc lại và chỉ lấy phần bột nhuyễn cho vào khuôn ép để trên nồi nước đã đun sôi, các sợi bún sẽ chảy xuống nồi. Khi các sợi bún nổi lên là chín, vớt ra đem thả vào nước sôi để nguội khoảng 25 độ rồi dỡ ra để nguội.
Bún Đa Mai có 4 sản phẩm chính: bún rối, bún vẩy ốc, bún con ba, bún vẩy (còn gọi là bún lá). Bún vẩy ốc và bún con ba thường chỉ được chế biến khi dân làng có hội hè, hoặc có người đặt riêng. Bún rối và bún lá là những sản phẩm luôn luôn được chế biến và tiêu thụ hàng ngày. Bún là món ăn dân dã thích hợp với khẩu vị của nhiều người; có nhiều món ẩm thực từ bún vô cùng hấp dẫn như: bún riêu cua, bún ốc, bún cá, bún ngan, bún vịt, bún măng, bún chân giò, bún chả, bún chấm nước mắm cà cuống, bún chấm mắm tôm, bún đậu, bún nem, nộm bún…
Mỗi loại bún kể trên cũng được kết hợp với từng món sao cho phù hợp; ví dụ như: bún rối thì được chế biến trong món bún có chan nước, như: bún cá, bún cua, bún ốc, bún bò, bún măng… Bún chả không chan nước nhưng cũng dùng bún rối. Bún vẩy ốc, bún lá lại được kết hợp với những món không chan nước như bún chấm mắm tôm, bún chấm cà cuống, bún đậu chấm mắm tôm, bún nem chấm nước mắm. Với loại hình ẩm thực này, từng con bún sẽ được cắt nhỏ đặt lên đĩa, khi ăn thực khách sẽ lấy đũa gắp bún và chấm vào nước chấm, kết hợp với các món như đậu rán, nem rán hoặc chỉ ăn bún không chấm với nước mắm cà cuống, mắm tôm, tuỳ vào khẩu vị và lựa chọn của mỗi người…
4. Rượu Làng Vân
Làng Vân thuộc thôn Yên Viên, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang là nơi có truyền thống nấu rượu từ lâu đời. Tiếng là làng quê nhưng Vân Hà có nét đặc trưng không giống với bất kỳ làng quê nào trên đất nước, đó là người dân Vân Hà không có ruộng, họ sống hoàn toàn bằng nghề thủ công, buôn bán, trao đổi hàng hoá với các vùng xung quanh, trong đó có nghề nấu rượu. Dưới các triều đại phong kiến, rượu làng Vân được dâng lên vua, rồi thường xuyên xuất hiện trong các buổi yến tiệc linh đình. Năm Chính Hòa thứ 24 (1703), vua Trần Hy Tông đã sắc phong bốn chữ vàng “Vân hương mỹ tửu” cho rượu làng Vân.
Người xưa truyền lại, làng Vân vì thiếu gạo, thiếu việc làm nên phải hành nghề nấu rượu sắn để bán cho những ai say chất men nồng của loài ngũ cốc nhưng cùng với thời gian, cái tên làng Vân đã trở thành thương hiệu của một loại rượu nổi tiếng khắp cả nước: Rượu làng Vân. Cái thứ nước trong văn vắt và đẹp như nắng hạ được đóng vào chai này chỉ cần lắc nhẹ là thấy sủi tăm: Hàng ngàn tăm rượu xoay tròn như một cột sáng rất lâu sau mới tắt. Những người sành uống chỉ cần nhìn tăm rượu đã biết rượu đạt bao nhiêu độ, uống vào có êm hay không. Không giống với các loại rượu khác, rượu làng Vân uống êm, vị đậm, uống xong có cảm giác lâm li hương vị đặc biệt trong họng và không đau đầu. Tất cả tạo nên nét riêng của loại rượu mang thương hiệu làng Vân vốn tồn tại từ hàng chục thế kỷ qua.
Người xưa truyền lại, làng Vân vì thiếu gạo, thiếu việc làm nên phải hành nghề nấu rượu sắn để bán cho những ai say chất men nồng của loài ngũ cốc nhưng cùng với thời gian, cái tên làng Vân đã trở thành thương hiệu của một loại rượu nổi tiếng khắp cả nước: Rượu làng Vân. Cái thứ nước trong văn vắt và đẹp như nắng hạ được đóng vào chai này chỉ cần lắc nhẹ là thấy sủi tăm: Hàng ngàn tăm rượu xoay tròn như một cột sáng rất lâu sau mới tắt. Những người sành uống chỉ cần nhìn tăm rượu đã biết rượu đạt bao nhiêu độ, uống vào có êm hay không. Không giống với các loại rượu khác, rượu làng Vân uống êm, vị đậm, uống xong có cảm giác lâm li hương vị đặc biệt trong họng và không đau đầu. Tất cả tạo nên nét riêng của loại rượu mang thương hiệu làng Vân vốn tồn tại từ hàng chục thế kỷ qua.
Vì lẽ đó, ở cổng vào làng Vân cho đến nay vẫn còn khắc hai câu đối:
Để giữ bí quyết của nghề nấu rượu, ngay từ xa xưa, người dân Vân Hà đã có ý thức bảo vệ nghề truyền thống của mình. Trong gia đình, cha mẹ chỉ truyền nghề cho con trai và con dâu. Tập tục này được tuân thủ nghiêm ngặt và trở thành một điều thề ước lâu đời ở làng Vân.
Ngày trước vì làng thiếu gạo nên làm rượu sắn, nhưng nay làng đã khôi phục lại nghề nấu rượu bằng gạo nếp. Rượu được nấu bằng gạo nếp cái hoa vàng - thứ nếp đặc biệt thơm ngon, hòa cùng men rượu bí truyền của làng Vân được chế biến từ 36 vị thuốc Bắc quý hiếm và phải ngâm ủ đủ 72 giờ. Với nghệ thuật nấu rượu tài tình của người làng Vân đã tạo ra một thứ nước trong văn vắt với hương vị êm dịu, lắng đọng đã chinh phục cả những vị khách khó tính nhất. Từ hàng chục thế kỷ qua, hương vị đặc biệt của rượu làng Vân luôn được nhiều du khách chọn mua về làm quà khi lên vùng Kinh Bắc.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh trở nên khốc liệt và rượu Làng Vân cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó. Thế nhưng, với thương hiệu nổi tiếng và được khẳng định bằng chất lượng, rượu làng Vân vẫn có chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong và ngoài nước. Rượu làm ra đến đâu, tiêu thụ hết đến đó. Khắp mọi miền đất nước, trong các nhà hàng, khách sạn lớn nhỏ, quán bình dân... đâu đâu cũng có sự xuất hiện của loại rượu mang nhãn mác rượu Làng Vân.
Để thương hiệu rượu làng Vân ngày càng khẳng định được vị thế, vang xa hơn nữa. Năm 2003, HTX rượu Vân Hương được thành lập và là đơn vị duy nhất đã phối hợp các nhà khoa học xây dựng thành công tháp tinh luyện rượu nhằm loại bỏ các tạp chất độc hại đảm bảo sức khỏe, quyền lợi cho người tiêu dùng. Rượu do HTX Vân Hương sản xuất đã đạt được các danh hiệu cao nhất trong các kỳ tham dự hội chợ: HCV tại Hội chợ Tuần lễ xanh quốc tế Việt Nam - năm 2003; năm 2004 – 2005, liên tiếp dành 2 danh hiệu "Thương hiệu nổi tiếng" tại Hội chợ Thương hiệu Việt Nam; năm 2007- 2008, 2 năm liên tiếp đạt Giải nhất khi tham gia Liên hoan tuyển chọn rượu Việt Nam do hiệp hội bia rượu nước giải khát Việt Nam tổ chức; năm 2010 đạt cúp vàng doanh nghiệp tiêu biểu nghìn năm Thăng Long – Hà Nội và nhiều bằng khen khác của tỉnh và Nhà nước.
Để mở rộng thị trường và phát triển thương hiệu rượu làng Vân, địa phương đang kêu gọi các nhà đầu tư bên ngoài vào để phát triển sản xuất. Cùng với đó là cải tiến nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tuân thủ theo hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà nước... Hiện tại, đã quy hoạch xong 3 ha để làm khu Nhà máy rượu làng Vân, với số vốn ban đầu hơn 3 tỷ đồng đầu tư cho làm đường, san nền, kè. Ngoài ra, còn sử dụng hệ thống tháp cất rượu cao tầng để làm sạch rượu theo tiêu chuẩn của Viện khoa học Việt Nam do trường Đại học Bách Khoa thiết kế, công suất đạt khoảng 60 nghìn lít/tháng.
ST







0 nhận xét :
Đăng nhận xét